Tag: trồng xen

Tìm hiểu trồng xen trong vườn dừa

Tìm hiểu trồng xen trong vườn dừa

Dừa ở Bến Tre đang được trồng trên những vùng đất khác nhau. Như đất giồng, đất phù sa mới, đất cát hay cát pha; có khu vực nước ngọt quanh năm, nhưng có vùng bị nhiễm phèn nhiễm mặn với các mức độ khác nhau; có nơi đất cao nhưng cũng có nơi bị ngập nhiều hay ít…

Tìm hiểu trồng xen trong vườn dừa

Tìm hiểu trồng xen trong vườn dừa

Ông Phan Văn Khổng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông – Khuyến Ngư Bến Tre
Và Đoàn cán bộ đi khảo sát các mô hình trồng xen trong vườn dừa

Trồng xen trong vườn dừa là mô hình sản xuất tiến bộ. Nhưng không phải vườn dừa nào cũng có thể trồng xen và không phải loại cây nào cũng có thể trồng xen có hiệu quả. Để trồng xen thành công, bà con nông dân cần phải nghiên cứu kỹ và áp dụng tốt các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất; đồng thời, phải hiểu rõ những vấn đề cơ bản sau trước khi quyết định phương án xen canh cụ thể:
Thứ nhất: Những loại cây được khuyến khích trồng xen trong vườn dừa đều phát triển được trong bóng râm, nhưng chúng vẫn cần một lượng ánh sáng trực tiếp nhất định. Nếu thiếu ánh sáng tối thiểu, chúng có thể sống, nhưng không có trái hoặc có rất ít trái. Vì vậy, đối với những vườn dừa đang trồng quá dày mà muốn trồng xen, thì trước hết phải tỉa bớt những cây dừa ít trái hoặc không có trái, tạo khoảng trống để có đủ ánh sáng cần thiết cho cây trồng xen có thể ra hoa và kết quả. Khoảng cách giữa hai cây dừa phù hợp cho việc trồng xen là từ 8 mét trở lên. Ở những vườn dừa lâu năm, cây đã cao trên 15 mét, thì ánh nắng dọi xuống mặt đất tốt hơn vườn dừa còn thấp. Bộ rễ của mỗi cây dừa phát triển tập trung nhất trong phạm vi khoảng 16 m2, nên với khoảng cách như đã nêu và nếu được chăm bón đúng mức, cây dừa và cây trồng xen đều có đủ ánh sáng và dinh dưỡng để cùng phát triển đan xen với nhau và cho năng suất trái cao.
Thứ hai: Dừa ở Bến Tre đang được trồng trên những vùng đất khác nhau. Như đất giồng, đất phù sa mới, đất cát hay cát pha; có khu vực nước ngọt quanh năm, nhưng có vùng bị nhiễm phèn nhiễm mặn với các mức độ khác nhau; có nơi đất cao nhưng cũng có nơi bị ngập nhiều hay ít… Mỗi loại cây trồng xen có thể phát triển tốt trên vùng đất này, nhưng không thể trồng ở vùng đất khác. Vì vậy bà con cần phải căn cứ vào đặc điểm về đất đai vườn dừa của mình, để chọn cây trồng xen thích hợp nhất.
Thứ ba: Cây dừa cũng như các loại cây trồng xen đều cần được bón phân, tưới nước đầy đủ và phòng trừ sâu bệnh kịp thời để chúng sinh trưởng tốt và cho hiệu quả cao. Trồng dừa cũng như trồng xen mà thiếu chăm sóc, thì hiệu quả sẽ thấp hoặc bị thất bại.
Đề nghị bà con nghiên cứu kỹ những vấn đề nêu trên và những nội dung kỹ thuật đối với từng loại cây trong tập tài liệu: “Kỹ thuật trồng xen trong vườn dừa” để cân nhắc trước khi quyết định trồng xen, nhằm bảo đảm có hiệu quả, tránh lãng phí công sức và vốn đầu tư.
Đối với những bà con đã trồng xen trong vườn nhưng chưa đúng kỹ thuật, thì có thể dựa vào tài liệu để xem xét, điều chỉnh cho hợp lý, nhằm tạo ra hiệu quả cao hơn.

Theo hiephoiduabentre.com.vn

Kinh nghiệm trồng xen cây dâu trong vườn dừa

Kinh nghiệm trồng xen cây dâu trong vườn dừa

Khoảng cách trồng: Khoảng cách trung bình 6 x 6m/cây. Mật độ dừa thích hợp khoảng 60 – 80 cây/ha, mật độ dâu trồng xen từ 200- 180 cây/ ha. Cây dâu đực được bố trí trồng xen hàng đầu tiên từ hướng đông nếu trồng nhóm dâu trỗ hoa vào tháng 12- 2 dương lịch, hoặc hướng tây nam nếu trồng dâu Hạ Châu.

Kinh nghiệm trồng xen cây dâu trong vườn dừa

Kinh nghiệm trồng xen cây dâu trong vườn dừa

1. Đặc điểm sinh thái: Cây dâu (giâu) ra hoa, đậu trái tốt trong điều kiện thời tiết mát (khoảng 20-220C). Vì vậy, trong điều kiện thời tiết nóng, nếu chỉ trồng đơn lẻ cây dâu cái sẽ cho trái lép, nên cần trồng xen khoảng 10% cây dâu đực cùng nhóm giống ra hoa cùng thời gian với các cây cái trồng trong vườn.
2. Giống trồng: Các giống dâu trồng có hiệu quả kinh tế cao như dâu xanh giáo Bảo, dâu Xiêm, dâu Hạ Châu…Riêng dâu Hạ Châu là giống dâu chịu nhiệt tốt hơn các giống dâu khác. Cây trỗ hoa vào đầu mùa mưa và chín vào tháng 9-10dl, trái có phẩm chất tốt, múi có vị ngọt đậm nên được thị trường ưa chuộng. Đây là giống có triển vọng trong mô hình trồng dừa xen dâu hiện nay.

Trồng xen canh dâu Hạ Châu trong vườn dừa
3. Kỹ thuật trồng
3.1. Khoảng cách trồng: Khoảng cách trung bình 6 x 6m/cây. Mật độ dừa thích hợp khoảng 60 – 80 cây/ha, mật độ dâu trồng xen từ 200- 180 cây/ ha. Cây dâu đực được bố trí trồng xen hàng đầu tiên từ hướng đông nếu trồng nhóm dâu trỗ hoa vào tháng 12- 2 dương lịch, hoặc hướng tây nam nếu trồng dâu Hạ Châu. Sau đó, trồng xen với các cây dâu cái trong vườn, bố trí nhằm tạo phấn hoa có thể bay theo gió đến thụ phấn được hoa của cây cái. Ngoài ra, có thể ghép dâu đực lên ngọn cây cái sau khi trồng 3-4 năm. Tỉ lệ ghép từ 10- 20% số cây trong vườn.
3.2. Bón phân: Tiến hành vun mô, bón lót tương tự như trồng bưởi. Nếu được thâm canh cây có thể cho năng suất khoảng 200 kg/cây/vụ,
4. Sâu bệnh và biện pháp phòng trị
Dâu tương đối ít sâu bệnh, nhưng cần lưu ý một số đối tượng gây hại sau đây:
4.1. Sâu ăn lá nhiều màu: Sâu non có màu xanh điểm hồng thường xuất hiện thành đợt dịch. Cần thăm vườn phát hiện sâu sớm.Cáchphòng trị là phun thuốc Abamectin, Karate, Sherbush khi mật số sâu cao.
4.2. Bọ cánh cứng ăn lá: Thường xuất hiện nhiều trong năm đầu lúc cây còn nhỏ, bọ gây hại nặng vào đầu mùa mưa và vào buổi tối.Cách phòng trị là phun các loại thuốc như Karate, Sherbush, Fastac khi mật số sâu cao.
4.3. Nhện đỏ: Gây hại lá và hoa, trái, nhiều nhất trong mùa nắng nóng. Cách phòng trị là phun thuốc Abamectin, Emamectin, Dầu khoáng SK, Kumulus khi nhện có mật số cao.
4.4. Sâu ăn vỏ thân cành:Sâu non đục luồn dưới lớp biểu bì cứng trên vỏ thân cành thành những đường hầm, sâu ăn cả mầm hoa đang phân hóa làm cây mất sức và giảm số chùm hoa. Cách phòng trị là phun thuốc Fipronil (Regent, ViRigent) và chất bám dính lên thân cành khi sâu xuất hiện nhiều hoặc phun Chlopyriphos ethyl (Mapy, Dragon) và chất bám dính lên thân cành khi thấy có cả sâu lẫn rệp sáp ký sinh.
4.5. Ruồi đục trái:Ruồi đẻ trứng lên các trái đang chín bị nứt vỏ lẫn các trái lành lặn. Sau vài ngày trứng nở thành dòi cắn phá bên trong trái, làm trái bị rụng hoặc mất giá trị thương phẩm. Cần đặt bẫy ruồi đồng loạt ngay từ đầu vụ trái; đốn bỏ các cây tạp như: mận, ổi trong vườn. Phun ngừa dòi bằng Fipronil (Regent, Tungent) giai đoạn 20 ngày trước khi thu hoạch.
4.6. Bệnh thối trái:Thường xuất hiện khi trong vườn bị sâu, dòi đục trái tấn công nhiều. Bệnh do nhiều loại nấm gây ra. Phun thuốc LoveRice, Tilral trước khi thu hoạch khoảng 15-20 ngày.
Theo hiephoiduabentre.com.vn

Kinh nghiệm trồng xen cây chuối trong vườn dừa

Kinh nghiệm trồng xen cây chuối trong vườn dừa

:Thành trùng là một loại mọt đẻ trứng vào thân và củ chuối. Sâu non (sùng) đục phá củ chuối làm cây còi cọc, hoặc chết.Khi cây bị bệnh cần chặt sát gốc, chuyển thân ra khỏi vườn nếu có thể, dùng bùn hoặc đất lấp nhanh gốc chuối vừa chặt bỏ thân hoặc phun thuốc trừ sâu thông thường lên vết cắt của củ chuối.

Kinh nghiệm trồng xen cây chuối trong vườn dừa

Kinh nghiệm trồng xen cây chuối trong vườn dừa

1. Điều kiện sinh thái của cây chuối: Chuối sinh trưởng, phát triển tốt trong phạm vi 25-350C, có nhu cầu nước rất cao nhưng không chịu ngập úng. Chuối có khả năng thích ứng trong phạm vi cường độ ánh sáng tương đối rộng. Chuối yêu cầu về đất không quá nghiêm ngặt. Tốt nhất đối với chuối là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa.
2. Giống: Các giống chuối kinh tế tại Bến Tre hiện nay gồm một số giống như chuối Xiêm (chuối sứ), chuối già cui, chuối già lùn, chuối cau, chuối sáp, chuối tá quả,… Tuỳ theo thị trường tiêu thụ và điều kiện tự nhiên ở từng địa phương mà quyết định nên trồng giống nào có hiệu quả nhất.
Tuỳ mỗi giống chuối mà kích cỡ cây con khi trồng có khác nhau.
– Chuối tá quả, chuối cau: cây con thích hợp khi cao 40-50cm;
– Chuối già cui, chuối xiêm: cây cao 60-80cm;
– Chuối sáp: cây con cao khoảng 100- 120cm.
Đối với chuối cấy mô trồng khi cây cao 30-40 cm. Chọn cây con mập, lá có hình mũi mác cây sẽ mạnh, phát triển nhanh sau trồng.

Trồng xen chuối trong vườn dừa
3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:
3.1. Khoảng cách, mật độ trồng: Khoảng cách trung bình 3 x 3m/cây, nên trồng cách gốc dừa tối thiểu 3m.
3.2. Mùa vụ trồng: Nếu chủ động được nước tưới có thể trồng chuối trong mùa nắng, cây sẽ phát triển nhanh sau trồng do cây đủ nhiệt độ và ánh sáng. Thời vụ thuận lợi nhất là đầu mùa mưa. Tránh trồng thời điểm tháng 9-12 dl cây sẽ chậm phát triển do ảnh hưởng mưa lũ, thiếu nắng và nhiệt độ thấp.
3.3. Phân bón: Nhu cầu phân bón trung bình cho chu kỳ sinh trưởng một cây chuối khoảng 250-450 gam urea, 500 gam lân (super, nung chảy), 400-500 gam kali clorua tuỳ thuộc vào đất tốt xấu. Có thể thay bằng 1 kg NPK 15-9-20+TE. Lượng phân có thể chia bón 3 lần chính:
– Giai đoạn 4 tháng đầu: ¼ NPK cho 1 cây;
– Giai đoạn từ tháng thứ 5 – 7: ½ NPK cho 1 cây;
– Giai đoạn sau khi cây trỗ buồng: ¼ NPK còn lại.
Đối với năm thứ 2, 3 trong chu kỳ khai thác, mỗi năm cho thu hoạch khoảng 4 buồng/bụi, nên lượng phân cũng tăng gấp 2-3 lần/bụi.
4. Sâu bệnh và các biện pháp phòng trị:
4.1. Sùng đục củ:Thành trùng là một loại mọt đẻ trứng vào thân và củ chuối. Sâu non (sùng) đục phá củ chuối làm cây còi cọc, hoặc chết.Khi cây bị bệnh cần chặt sát gốc, chuyển thân ra khỏi vườn nếu có thể, dùng bùn hoặc đất lấp nhanh gốc chuối vừa chặt bỏ thân hoặc phun thuốc trừ sâu thông thường lên vết cắt của củ chuối.
4.2. Bệnh đốm lá: Vết bệnh hình thoi hoặc liên kết thành mãng khô lớn, bệnh nặng làm cây ngưng phát triển, năng suất giảm nghiêm trọng.Bệnh do nấm Cercospora musae, thường gây hại nặng trong thời kỳ mưa nhiều, ẩm độ không khí cao và thiếu nắng. Nếu bệnh nặng cần phun Carbendazim, Loverice, Topsin M,… kèm với dầu khoáng hoặc chất bám dính. Phun ướt kỹ cả 2 mặt lá.
4.3. Bệnh héo rũ:Cây bị héo nhanh, lá rũ, trái chín non (háp), ruột các trái non chuyển sang màu sẩm; các mạch dẫn nhựa ở bẹ lá chuyển màu vàng hoặc nâu đen, củ chuối bị nhũn. Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum gây hại. Để đề phòng Bệnh héo rũthìđất trồng chuối cần cao ráo, thoát nước tốt, bón phân cân đối, vệ sinh vườn thường xuyên. Nên luân canh, sử dụng cây giống không mang mầm bệnh (giống cấy mô).
4.4. Bệnh chùn đọt: Lá chuối bị bệnh thường nhỏ, mép lá phát triển không đều, có màu vàng trắng. Cây bị lùn, chùn đọt, không trổ buồng hoặc trổ nhưng trái nhỏ, cong queo. Bệnh do virus gây hại, môi giới truyền bệnh là rầy chuối. Để đề phòng chuối bị bệnh chùn đọt cần thường xuyên vệ sinh vườn, tiêu hủy cây bị bệnh, phun thuốc diệt rầy. Khi trồng cần tìm giống chuối không bị nhiễm bệnh, giống cấy mô…
Theo hiephoiduabentre.com.vn

Kinh nghiệm trồng xen cây măng cụt trong vườn dừa

Kinh nghiệm trồng xen cây măng cụt trong vườn dừa

Măng cụt thích hợp ở dạng đơn thân, nên cần cắt bỏ những cành vượt ra khỏi khung tán và những cành mọc trong tán không tiếp xúc được với ánh sáng, cành mọc đan chéo nhau. Mục đích là tạo cho cây có hình tán dù và giúp cho cây được thông thoáng để ánh sáng đến được tất cả các lá trên cây, giúp cây quang hợp tốt và hạn chế được sự phát triển của sâu bệnh

Kinh nghiệm trồng xen cây măng cụt trong vườn dừa

Kinh nghiệm trồng xen cây măng cụt trong vườn dừa

1. Đặc điểm sinh thái: Nhiệt độ thích hợp cho cây măng cụt phát triển ở vào khoảng 25-350C và ẩm độ không khí thấp nhất là 80%.Trong năm đầu trồng, cây măng cụt cần phải được che bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp đến cây, nếu không ánh sáng mặt trời có thể làm hư hại đỉnh sinh trưởng, cây chậm phát triển.Cây măng cụt có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau, nhưng tốt nhất là đất giàu hữu cơ, tầng canh tác dầy, độ pH đất khoảng 5,5- 7,0; không bị nhiễm mặn. Điều kiện tưới tiêu nước thuận lợi.
2. Giống: Hiện nay chỉ có một giống măng cụt nhưng cần chú ý chọn cây giống tốt để bảo đảm hiệu quả về sau.

Trồng xen cây măng cụt trong vườn dừa
3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:
3.1. Khoảng cách trồng: Do măng cụt có tán lớn cần chú ý tỉa thật thưa vườn dừa. Khoảng cách giữa các cây măng cụt tối thiểu 7 mét, cách gốc dừa tối thiểu 4 mét.
3.2. Chuẩn bị hố trồng: Trên chân đất cao hố trồng được đào với kích thước 60 x 60 x 60cm hoặc 80 x 80 x 80cm, bón lót cho mỗi hố vào khoảng 0,5 – 1 kg vôi, 10 – 20 kg phân chuồng hoai mục kết hợp với 100 – 200g phân NPK 16-16-8, và 10- 20g thuốc Map Logic để trừ tuyến trùng. Nên trồng cây trên mô đất cao hơn mặt liếp hoặc mặt đất tự nhiên khoảng 10- 20cm để hạn chế hiện tượng ngập úng giai đoạn cây con.
3.3. Cách trồng: Khi cây con đạt tiêu chuẩn mới đưa ra vườn trồng (cây 2 năm tuổi có khoảng 13-14 cặp lá và 02 cặp cành cấp 1). Đặt cây vào hố lấp đất ngang mặt bầu, cắm cọc giữ cây khỏi đổ ngã, che bóng và tưới nước cho cây ngay sau khi trồng. Sau đó, sử dụng lá dừa hoặc cỏ khô phủ kín phần đất tơi xốp quanh cây một lớp dày, cách gốc 10 cm để giữ ẩm.
3.4. Tưới nước: Măng cụt là cây có nhu cầu nước nhiều, nhất là giai đoạn cây con và cây đang mang trái vì sau khi trỗ (khoảng tháng 12 dương lịch) là thời kỳ không mưa. Nếu thiếu nước ở giai đoạn cây con thì cây chậm lớn, giai đoạn cây đang mang trái thì trái nhỏ và giảm phẩm chất. Do đó, cần phải tưới nước cách ngày cho cây nhất là ở giai đoạn sau khi đậu trái.
3.5. Tỉa cành tạo tán: Măng cụt thích hợp ở dạng đơn thân, nên cần cắt bỏ những cành vượt ra khỏi khung tán và những cành mọc trong tán không tiếp xúc được với ánh sáng, cành mọc đan chéo nhau. Mục đích là tạo cho cây có hình tán dù và giúp cho cây được thông thoáng để ánh sáng đến được tất cả các lá trên cây, giúp cây quang hợp tốt và hạn chế được sự phát triển của sâu bệnh. Khi cây đã cho trái, vào cuối vụ lúc đã thu trái hoàn toàn trên cây cần tỉa bỏ những cành trong tán cây, cành sâu bệnh và những cành không còn khả năng cho trái và đặc biệt là cành vượt nhằm cho các cây không giao tán nhau, tạo bộ khung tán vững chắc đồng đều. Tiến hành cắt tỉa một cặp lá đầu tiên ở tất cả các cành trên tán cây nhằm kích thích ra nhiều chồi mới và đồng loạt hơn. Công việc tỉa cành tạo tán phải tiến hành ngay sau khi bón phân đợt 1 và cần phải dứt điểm trong vòng một tuần sau khi bón phân đợt 1.
3.6. Treo cành:Cành măng cụt giòn và dễ gãy, vì vậy nên dùng dây hay cây đỡ cành. Dùng cây đỡ cành đối với những cành mọc thấp để không cho cành chạm đất và gãy nhất là vào giai đoạn mang trái. Dùng dây cột cành đối với những cành trên cao (cột từ cành vào thân chính, không nên cột từ cành này qua cành khác) nhằm hạn chế sự gãy hay tổn thương cành do gió và quá trình hái trái.
3.7. Bón phân:
– Giai đoạn cây con: Mỗi năm nên bón 5- 10 kg phân chuồng hoai mục cho một cây (có thể bón một lần vào cuối mùa mưa) và phân NPK 15-15-15+TE ở giai đoạn cây chưa cho trái với liều lượng và số lần bón trong năm như sau:

– Giai đoạn cây cho trái ổn định: Đối với cây có đường kính tán 7- 8m, bón cho mỗi cây khoảng 6-8 kg phân NPK và 8-10kg phân gà, bón làm 3 lần trong năm như sau:
+ Lần 1: Sau khi thu hoạch dứt điểm, bón 6 kg phân gà và 2-3 kg phân NPK 20-10-10+TE.
+ Lần 2: Trước khi ra hoa 30-40 ngày bón 2-3 kg phân NPK15-15-15 +2-3 kg super lân.
+ Lần 3: Sau khi đậu trái (khi đường kính trái 2cm hay khoảng 2 tuần sau khi trổ hoa) bón 2-4kg phân gà NPK 13-13-21+TE + 0,5 kg Nitrabor. Nên chia phân bón làm 2 lần, cách nhau 2 – 3 tuần để tránh sốc phân gây rụng trái non.
* Cách bón phân: Do rễ cây măng cụt chỉ phát triển ở 2/3 hình chiếu tán cây nên khi bón phân cũng theo vị trí trên. Có thể sử dụng các loại phân NPK khác hoặc phân tự trộn có hàm lượng dưỡng chất tương đương.
3.8. Xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt: Hầu hết, các yếu tố ảnh hưởng xấu đến chất lượng măng cụt thường xảy ra trong mùa mưa. Để khắc phục hiện tượng đó, cần phải làm cho cây măng cụt ra đọt non đồng loạt từ tháng 8- 9 dl để cây trổ hoa vào tháng 11- 12 dl.
Cách làm:
– Sau khi thu hoạch xong tiến cành tỉa cành tạo tán như đã nêu ở phần tỉa cành tạo tán, khoảng 15 ngày sau phun thiourea (Sure 99% thiourea hay Rabon 99% thiourea) ở nồng độ 30g/8lít nước, khoảng 15- 20 ngày sau khi phun cây sẽ ra đọt mới.
– Khi đọt non được 5 tuần tuổi tiến hành bón phân đợt 2 và 1 tuần sau khi bón phân đợt 2 (tuần thứ 6 sau khi ra đọt non) phun MKP 0- 52-34 với liều lượng 100g/10 lít nước, phun ướt đều tán cây để giúp lá mau thành thục chuẩn bị cho quá trình xử lý ra hoa.
– Khi đọt non được 8- 9 tuần tuổi tiến hành tạo khô hạn cho cây bằng biện pháp phủ nilon trên mặt liếp (xiết nước thật khô trên mặt liếp và mực nước ở mương phải cạn, tối thiểu mực nước dưới mương cách mặt liếp từ 1- 1,5 m). Sau khi tạo khô hạn cho cây khoảng 15- 30 ngày đến khi lá non măng cụt bị héo hay đọt non măng cụt bị móp lại, nhăn nheo thì tưới nước thật đẫm trở lại (lần 1) và tưới nước lần 2 cách lần 1 không quá 1 tuần với lượng nước bằng nửa lượng nước tưới lần 1. Các lần tưới nước sau phải đảm bảo cho đất đủ ẩm, tuỳ theo tình trạng của cây khoảng 10-20 ngày sau khi tưới nước cây sẽ nhú chồi hoa.
– Khi cây không ra hoa, có thể tiến hành tạo khô hạn và tưới nước lại tương tự lần đầu.
3.9. Nguyên nhân và biện pháp khắc phục hiện tượng sượng trái măng cụt
Hiện tượng chảy mủ vàng là một hiện tượng khá phổ biến trên cây măng cụt. Nguyên nhân có thể do thiếu canxi, đất trồng nghèo chất hữu cơ, lạm dụng phân bón hóa học, nhiễm nấm bệnh, thừa nước trong giai đoạn trái già, chín. Vì vậy, cần đảm bảo cho vườn thoát nước tốt trong mùa mưa và tạo điều kiện cho cây ra hoa và thu hoạch trái trước mùa mưa, bón phân có chứa canxi, bón nhiều phân hữu cơ nhất là phân gà hoai mục. Có thể phun ngừa các bệnh trên trái bằng các thuốc phổ rộng như Mataxyl, Carbendazim. Đậy liếp siết nước giai đoạn 30 ngày trước khi chín và kéo dài cho đến khi thu hoạch xong cũng làm giảm đáng kể tỉ lệ trái bị sượng, mủ. Ở chân đất phù sa ven sông, cần thiết kế mương sâu từ 1,2- 1,5 m, cho nước thủy triều lên xuống tự do và không giữ nước lại trong mương kể từ khi cây ra hoa cũng hạn chế đáng kể hiện tượng sượng, xì mủ bên trong trái.
4. Sâu bệnh và biện pháp phòng trị: Mặc dù măng cụt ít bị sâu bệnh trong quá trình canh tác. Tuy nhiên, khi phải phòng trị dịch hại cần tuân thủ nguyên tắc “Bốn đúng” để đảm bảo hiệu quả phòng trị cao, an toàn cho người trực tiếp sản xuất, môi trường và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
4.1. Sâu vẽ bùa: Là loài sâu đa thực, chủ yếu gây hại lá non trên cây có múi và măng cụt. Cần phun dầu DC Tron Plus, Map Jono 700 WP, Brightin 4.0 EC, khi cây nhú tược 1-2 cm.
4.2. Bọ trĩ: Bọ trĩtrưởng thành và ấu trùng đều chích hút bầu noãn và vỏ trái làm cho vỏ trái bị chảy nhựa, sần sùi làm giảm trọng lượng trái và giá trị thương phẩm. Nếu gây hại nặng sẽ làm rụng bông, trái non. Cách phòng trị là lúc cây ra bông, trái non nếu phát hiện có bọ trĩ thì dùng thuốc tương tự như cách phòng trị sâu vẽ bùa.
4.3. Nhện: Chích hút lá, bông trái non đến trưởng thành làm giảm khả năng quang hợp, giảm trọng lượng trái và làm vỏ trái sần sùi (da cám) giảm giá trị thương phẩm. Cần phun dầu DC Tron Plus, Abatin 5,4 EC, Brightin 4,0 EC, Map Genie 12EC,… khi phát hiện có nhện.
4.4. Sâu đục cành(Anoplophora sp.): Thành trùng đẻ trứng vào các vết nứt trên thân cành, làm cành bị khô chết, mất sức, dễ bị nấm bệnh tấn công và đổ gãy khi giông gió. Cần cắt bỏ, tiêu huỷ các cành nhỏ, tiêm thuốc Mapy 48 EC hoặc Map Permethrin 50 EC, Carbosan 25 EC vào vết sâu đục trên cành lớn.
4.5. Bệnh đốm rong: Bệnh xảy ra trên lá, thân, nhánh. Rong tấn công trên thân nhánh tạo thành các đốm đồng tiền hay loang lỗ màu xám xanh hoặc vàng (lúc đang sinh sản). Bệnh trở nên nghiêm trọng ở những vườn cây chăm sóc kém. Bệnh do tảo Cephaleuros virescens gây ra. Phòng trị bằng cách phun hoặc bôi các thuốc gốc đồng như Norshield 86.2WG, Kasuran 47 WP,… lên vùng bị bệnh, có thể dùng vôi quét lên thân cây.
4.6. Bệnh đốm lá: Bệnh làm rụng lá và ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, bệnh có thể tấn công trên trái trước và sau thu hoạch gây nên hiện tượng thối trái, trái bệnh trở nên cứng và vùng nhiễm bệnh chuyển sang hồng sáng, các bào tử nấm màu đen bằng đầu kim hiện diện trong vùng bệnh. Trên thân, triệu chứng gây hại bao gồm nứt cành, chảy nhựa, phồng vỏ và khô cành. Bệnh do nấm Pestalotia sp gây ra. Phòng trị bằng cách vệ sinh vườn, loại bỏ lá bệnh đem ra khỏi vườn, những cành kém hiệu quả để cây thông thoáng. Phun các thuốc Topsin-M 70 WP, Norshield 86.2WG, Swing 25 SC khi lá non bắt đầu xuất hiện, phun liên tiếp 3 lần cách nhau 7 ngày. Chú ý phun vào những đợt lá ra vào đầu mùa mưa.
4.7. Bệnh chết nhánh: Trên thân và cành có sự xuất hiện những vết loét, vết u sần, đôi khi chảy nhựa, kéo theo khô cuống lá và cành, trong trường hợp bị nặng thì cây có thể bị chết. Bệnh do nấm Zignoella gorcirea gây ra. Phòng trị bằng cách cắt và loại bỏ những cành bị hại nặng, những cành khô chết để hạn chế lây lan; quét nơi vết cắt bằng các loại thuốc gốc đồng, có thể kết hợp phun các loại thuốc gốc đồng lên tán lá và quét vôi pha với thuốc gốc đồng vào gốc cây ở đầu mùa mưa.
4.8. Bệnh thán thư: Bệnh xuất hiện trên trái, vết bệnh cứng và có màu nâu sáng, có những đốm đen bằng đầu kim, đó là bào tử nấm hiện diện trên vết bệnh. Xung quanh vết bệnh xuất hiện vòng do các tế bào bị hoại tử. Phòng trị bằng cách phun thuốc Swing 25 SC, Topsin M thẳng vào trái ở giai đoạn 2 tuần trước khi thu hoạch trái.
Theo hiephoiduabentre.com.vn